Sống tại nhân gian rất lạ thường
Ngục tù chẳng trói nổi yêu thương
Đưa thuyền tín hữu bao bờ bến
Dẫn dắt đoàn chiên một nẻo đường
Đức độ vang xa danh bốn biển
Tài năng xuất chúng tiếng mười phương
Anh linh nay đã về thiên quốc
Để lại giữa đời hoa ngát hương.
Kỷ niệm thời điểm Hội Thánh mở hồ sơ phong Á Thánh cho
Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận.
(22/10/2010)
Tịnh Mạc
________***_______
''Đức Hồng y Thuận qua đời ngày 16/09/2002. Khi hay tin Ngài mất, Đức Cha Giampaolo Crepaldi, Tổng Thư ký Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, đã tuyên bố với báo chí: “Một vị Thánh vừa qua đời”.
Ba năm sau, đúng vào dịp tưởng nhớ năm năm ngày mất của Đức Hồng y Thuận, Tòa Thánh đã chính thức mở hồ sơ phong chân phước cho Ngài. Và ngày 22/10 này, án điều tra phong chân phước của Ngài được chính thức bắt đầu'' ( BBC )
Tiểu sử Đức Cố Hồng Y
Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17.4.1928 tại Phủ Cam, Huế. Thân phụ ngài là cụ Nguyễn Văn Ấm, thuộc dòng tộc quyền quý ở Huế. Thân mẫu ngài là cụ bà Ngô Đình Thị Hiệp, em của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Lúc nhỏ ngài học ở Tiểu Chủng Viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị, và Đại Chủng Viện Kim Long, Huế. Ngài được thụ phong linh mục ngày 11.6.1953 và được bổ nhiệm làm Cha Phó giáo xứ Tam Tòa, một giáo xứ lớn ở thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Sau cuộc di cư năm 1954, ngài vào làm Cha Phó giáo xứ Phanxicô ở Huế.
Năm 1956, ngài được cử qua Roma học về Giáo Luật. Năm 1959 ngài đậu bằng Tiến Sĩ Giáo Luật và trở về làm Giám Đốc Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện ở Huế.
Năm 1967, ngài được Tòa Thánh Vatican chọn làm Giám Mục Giáo Phận Nha Trang. Ngày 26.6.1967, ngài được tấn phong Giám Mục tại Huế. Ngài chọn khẩu hiệu là “Gaudium et Spes” (Vui Mừng và Hy Vọng).
Ngày 10.7.1967 ngài đến nhận chức Giám Mục Giáo Phận Nha Trang. Trong 8 năm làm Giám Mục Giáo Phận Nha Trang (từ 10.7.1967 đến 23.4.1975), ngoài việc điều hành giáo phận, ngài đã cho phát triển mạnh các phong trào sau đây nhắm đưa tinh thần của Công Đồng Vatican II vào đời sống của mỗi người tín hữu và trong đời sống xã hội: Phong Trào Công Lý và Hòa Bình, Phong Trào Cursilos và Phong Trào Focolare. Trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngài đã giữa các chức vụ sau đây:
- Chủ Tịch Ủy Ban Truyền Thông Xã Hội (1967 - 1975)
- Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển (1967 - 1975)
- Cố Vấn Ủy Ban Giáo Hoàng về Giáo Dân (1971 - 1978).
Ngày 23.4.1975 Tòa Thánh đã phong Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám Mục hiệu tòa thành Vadesitana, giữ chức Tổng Giám Mục Phó Tòa Tổng Giám Mục Saigon với năng quyền kế vị. Không ngờ sự bổ nhiệm này đã đem đến cho ngài những hậu quả thương đau, những cũng đưa ngài lên những địa vị quan trọng trong Giáo Hội về sau.
Ngày 27.6.1975, Ủy Ban Quân Quản thành phố Saigon - Gia Định công bố quyết định không cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được hoạt động tại nhiệm sở mới. Ngày 1.7.1975 Ủy Ban Quân Quản gởi cho Ngài một văn thư yêu cầu phải trở lại nơi cư trú trước ngày 30.4.1975.
Ngày 15.8.1975, công an đến bắt Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đưa ra Nha Trang, nhưng không phải đưa về Tòa Giám Mục Nha Trang mà đưa đến quản thúc tại giáo xứ Cây Vông thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ít lau sau, ngài bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh, Nha Trang.
Ngày 29.11.1976, xe công an lại đến trại Phú Khánh đưa ngài vào trại Thủ Đức. Ngày 1.12.1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam, được đưa xuống tàu Trường Xuân đi ra Bắc. Tại miền Bắc, ngài đã bị biệt giam trong 9 năm ở nhiều trại khác nhau, và bị quản chế 3 năm. Ngày 23.11.1988, ngài được trả tự do và chỉ định nơi cư trú là Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội. Ngày 27.3.1989 ngài bị trục xuất khỏi Việt Nam và qua Roma.
Ngày 21.11.1994, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình. Đây là lần đầu tiên một giáo sĩ Việt Nam được bổ nhiệm vào một chức vụ quan trọng tại Tòa Thánh Vatican. Ngày 24.6.1998 ngài được cử giữ chức Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, một chức vụ ngang hàng Bộ Trưởng của Tòa Thánh. Ngài tuyên bố:
“Tôi mơ ước một Giáo Hội là chứng nhân của hy vọng và tình thương, bằng những hành động cụ thể, như khi chúng ta thấy Đức Giáo Hoàng tiếp nhận tất cả mọi người: Chính Thống, Anh giáo, Calvin, Luther... trong ơn thánh của Chúa Giêsu Kitô, tình thương của Chúa Cha và sự hiệp thông của Thánh Thần được sống trong kinh nguyện và trong sự khiêm tốn.”
Ngài Đi thuyết giảng khắp nơi trên thế giới. Ngày 21.2.2001, lúc 73 tuổi ngài được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong làm Hồng Y.
Năm 2001 ngài bị bướu lạ ở bụng bụng, ngài phải qua
Boston, Hoa Kỳ, để được giải phẩu. Đầu năm 2002 bệnh tái phát. Ngày 28.4.2002 ngài đã về Úc thăm thân mẫu và mừng 100 tuổi của Mẹ trước khi mổ lại lần thứ hai vào ngày 8.5.2002 tại Milano, nhưng vì tuổi già và sức khỏe không bảo đảm, nên cuộc giải phẩm chỉ mới được thực hiện khoảng một phần ba thì ngưng lại.
Ngày 16-9.2002 ngài đã từ trần lúc 6:30 chiều ngày 16.9.2003 tại Roma
Năm 1956, ngài được cử qua Roma học về Giáo Luật. Năm 1959 ngài đậu bằng Tiến Sĩ Giáo Luật và trở về làm Giám Đốc Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện ở Huế.
Năm 1967, ngài được Tòa Thánh Vatican chọn làm Giám Mục Giáo Phận Nha Trang. Ngày 26.6.1967, ngài được tấn phong Giám Mục tại Huế. Ngài chọn khẩu hiệu là “Gaudium et Spes” (Vui Mừng và Hy Vọng).
Ngày 10.7.1967 ngài đến nhận chức Giám Mục Giáo Phận Nha Trang. Trong 8 năm làm Giám Mục Giáo Phận Nha Trang (từ 10.7.1967 đến 23.4.1975), ngoài việc điều hành giáo phận, ngài đã cho phát triển mạnh các phong trào sau đây nhắm đưa tinh thần của Công Đồng Vatican II vào đời sống của mỗi người tín hữu và trong đời sống xã hội: Phong Trào Công Lý và Hòa Bình, Phong Trào Cursilos và Phong Trào Focolare. Trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngài đã giữa các chức vụ sau đây:
- Chủ Tịch Ủy Ban Truyền Thông Xã Hội (1967 - 1975)
- Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển (1967 - 1975)
- Cố Vấn Ủy Ban Giáo Hoàng về Giáo Dân (1971 - 1978).
Ngày 23.4.1975 Tòa Thánh đã phong Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám Mục hiệu tòa thành Vadesitana, giữ chức Tổng Giám Mục Phó Tòa Tổng Giám Mục Saigon với năng quyền kế vị. Không ngờ sự bổ nhiệm này đã đem đến cho ngài những hậu quả thương đau, những cũng đưa ngài lên những địa vị quan trọng trong Giáo Hội về sau.
Ngày 27.6.1975, Ủy Ban Quân Quản thành phố Saigon - Gia Định công bố quyết định không cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được hoạt động tại nhiệm sở mới. Ngày 1.7.1975 Ủy Ban Quân Quản gởi cho Ngài một văn thư yêu cầu phải trở lại nơi cư trú trước ngày 30.4.1975.
Ngày 15.8.1975, công an đến bắt Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đưa ra Nha Trang, nhưng không phải đưa về Tòa Giám Mục Nha Trang mà đưa đến quản thúc tại giáo xứ Cây Vông thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ít lau sau, ngài bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh, Nha Trang.
Ngày 29.11.1976, xe công an lại đến trại Phú Khánh đưa ngài vào trại Thủ Đức. Ngày 1.12.1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam, được đưa xuống tàu Trường Xuân đi ra Bắc. Tại miền Bắc, ngài đã bị biệt giam trong 9 năm ở nhiều trại khác nhau, và bị quản chế 3 năm. Ngày 23.11.1988, ngài được trả tự do và chỉ định nơi cư trú là Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội. Ngày 27.3.1989 ngài bị trục xuất khỏi Việt Nam và qua Roma.
Ngày 21.11.1994, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình. Đây là lần đầu tiên một giáo sĩ Việt Nam được bổ nhiệm vào một chức vụ quan trọng tại Tòa Thánh Vatican. Ngày 24.6.1998 ngài được cử giữ chức Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, một chức vụ ngang hàng Bộ Trưởng của Tòa Thánh. Ngài tuyên bố:
“Tôi mơ ước một Giáo Hội là chứng nhân của hy vọng và tình thương, bằng những hành động cụ thể, như khi chúng ta thấy Đức Giáo Hoàng tiếp nhận tất cả mọi người: Chính Thống, Anh giáo, Calvin, Luther... trong ơn thánh của Chúa Giêsu Kitô, tình thương của Chúa Cha và sự hiệp thông của Thánh Thần được sống trong kinh nguyện và trong sự khiêm tốn.”
Ngài Đi thuyết giảng khắp nơi trên thế giới. Ngày 21.2.2001, lúc 73 tuổi ngài được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong làm Hồng Y.
Năm 2001 ngài bị bướu lạ ở bụng bụng, ngài phải qua
Boston, Hoa Kỳ, để được giải phẩu. Đầu năm 2002 bệnh tái phát. Ngày 28.4.2002 ngài đã về Úc thăm thân mẫu và mừng 100 tuổi của Mẹ trước khi mổ lại lần thứ hai vào ngày 8.5.2002 tại Milano, nhưng vì tuổi già và sức khỏe không bảo đảm, nên cuộc giải phẩm chỉ mới được thực hiện khoảng một phần ba thì ngưng lại.
Ngày 16-9.2002 ngài đã từ trần lúc 6:30 chiều ngày 16.9.2003 tại Roma
Hồ sơ phong thánh của ngài được mở ngày 22/10/2010.
_________________
* Đọc thêm về ngài tại đây :
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét